Khí phách anh hùng và lòng nhân nghĩa qua tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Đề bài: Phân tích bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

Bài làm:

Nguyễn Trãi vừa là nhà văn chính luận vừa là nhà thơ trữ tình kiệt xuất vừa là danh nhân văn hoá thế giới. Văn chương của ông luôn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai tư tưởng yêu nước và nhân nghĩa, phản ánh vẻ đẹp của người anh hùng với lí tưởng lớn. Nội dung ấy được Nguyễn Trãi khắc hoạ rõ nét trong tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”

Nguyễn Trãi (1384-1442) hiệu là Ức Trai, quê ở Hà Tây. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống khoa bảng và yêu nước. Nguyễn Trãi là người toàn tài hiếm có trong lịch sử: nhà tư tưởng, nhà văn hoá lớn, nhà chính trị ngoại giao kiệt xuất, nhà quân sự đại tài đồng thời có kiến thức uyên thâm về lịch sử, địa lí, và là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được sáng tác năm 1428, sau khi cuộc chiến chống quân Minh thắng lợi, ông thừa lệnh Lê Lợi soạn bài cáo này để báo cho nhân dân biết sự nghiệp bình Ngô đã đại thắng. “Đại cáo bình Ngô” được viết bằng thể cáo- là thể văn nghị luận có từ thời cổ Trung Quốc thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dung để trình bày một chủ trương, sự nghiệp, tuyên ngôn một sự nghiệp trọng đại, viết bằng văn xuôi, văn vần hay văn biền ngẫu, lời nói đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu mạch lạc, chặt chẽ

Mở đầu bài cáo, Nguyễn Trãi đã đưa ra luận đề chính nghĩa “ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Đây không phải là một quan điểm mới mẻ hoàn toàn, nó đã tồn tại trước đó trong truyền thống của đạo Nho: “Nhân nghĩa là mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người dựa trên truyền thống và đạo lí”. Nhưng đến Nguyễn Trãi thì quan điểm nhân nghĩa được phát triển một cách sâu sắc hơn bao giờ hết. Theo tác giả, nhân nghĩa phải gắn bó với dân, yên dân, lo cho dân một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Cũng chính bởi thế mà khi còn làm quan ông luôn đề cao chính sách “thân dân, huệ dân”. Bên cạnh đó, nhân nghĩa còn gắn với việc diệt trừ bạo ngược, trừ hại cho dân:

“ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Không chỉ thế, nhân nghĩa còn là niềm tự hào tự tôn dân tộc . Tư tưởng này cũng từng được nói tới trong bài thơ thần của Lí Thường Kiệt, nhưng nếu tự hào trong “Nam quốc sơn hà” chỉ dừng lại ở lãnh thổ cương vực thì ở “ Đại cáo bình Ngô” tư tưởng ấy phát biểu một cách toàn diện hơn:

“ Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có”

Trong quan niệm của Nguyễn Trãi, nhân nghĩa còn là tự hào về truyền thống văn hoá, văn hiến lâu đời, tự hào về bờ cõi lãnh thổ giang sơn, về những phong tục tập quán mang đậm bản sắc dân tộc. Việc đặt những triều đại hùng  mạnh của Trung Quốc bên cạnh những triều đại của nước ta cho thấy niềm tự hào và tình yêu dân tộc, yêu đất nước tha thiết của tác giả. Hơn nữa, nhân nghĩa còn là niềm tự hào, ngợi ca những truyền thống anh dũng và những anh hùng hào kiệt của dân tộc Đại Việt. Với việc kết hợp hài hoà giữa các câu văn biền ngẫu, song đôi cùng với nghệ thuật liệt kê, đối, đòn bẩy đã thể hiện sâu sắc niềm tự hào, tự tôn dân tộc trong tư tưởng Nguyễn Trãi. Tác giả đã ý thức được truyền thống văn hoá là yếu tố quan trọng nhất của tư tưởng nhân nghĩa.

Nhân nghĩa còn gắn liền với chân lí lịch sử sâu sắc: những kẻ bất nhân, bất nghĩa nhất định sẽ bị diệt vong:

“ Lưu Cung tham công nên thất bại

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong”

Nếu ở đoạn đầu tác giả đã nêu nên luận đề chính nghĩa thì đến đoạn thứ hai, tác giả đã vách trần tội ác bất nhân của kẻ thù:

“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước lòng dân oán hận

Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ

Bọn gian tà bán nước cầu vinh”

Lời lẽ danh thép cứng rắn của Nguyễn Trãi là lời tố cáo xã hội phong kiến thời nhà Hồ thối nát, mục ruỗng, bạt nhược đã tạo cơ hội cho quân bán nước và bè lũ cướp nước. Tác giả gọi quân cướp nước là “ quân cuồng Minh” cho thấy thái độ căm phẫn khinh bỉ đối với kẻ thù xâm lược. Tội ác dã man, tàn bạo của giặc ngoại xâm đã được tả  giả khắc hoạ rõ nét trong bản cáo trạng của mình. Bằng nghệ thuật tả thực kết hợp với các biện pháp nghệ thuật phóng đại, liệt kê các tội ác của kẻ thù từ nhỏ đến lớn, từ cụ thể đến khái quát đã vạch trần cái tội ác “bại nhân nghĩa nát cả đất trời” của quân cướp nước. Chúng thẳng tay bóc lột nhân dân ta bằng thuế khoá nặng nề, ra sức vơ vét sản vật và bóc lột sức lao động của nhân dân ta:

“Nặng thuế khoá sạch không đầm núi

Người bị ép xuống biển còng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng

Nhiễu nhân dân bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng

Nay xây nhà, mai đắp đất, tay chân nào phục dịch cho vừa”

Thương thay tình cảnh đau đớn, xót thương thay những nỗi khốn cùng của nhân dân ta. Tội ác của kẻ thù còn đáng kinh tởm, đáng khinh bỉ đến tột cùng. Không chỉ có thế chúng còn phá hoại nghề truyền thống của nhân dân ta “tan tác cả nghề canh cửi”. Nhưng độc ác nhất, tàn bạo nhất là tội ác giết người của “ quân cuồng Minh”:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

Tội ác của quân thù thật man rợn, trời không dung, đất không tha. Tội ác ấy đã trực tiếp đẩy nhân dân ta đến tình cảnh diệt vong , đó là tội ác diệt chủng với âm mưu nhổ sạch cỏ nước Nam:

“Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

Tác giả đã lấy cái vô cùng để nhấn mạnh, khắc sâu tội ác không thể dung thứ của kẻ thù. Chúng đã nhẫn tâm đẩy nhân dân ta vào tình cảnh khốn cùng: mẹ mất con, vợ mất chồng, kinh tế văn hoá trì trệ, đối nghịch với kẻ thù “ kẻ hà miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán” thật đáng ghê tởm. Chúng nhẫn tâm một cách vô nhân đạo, vô nhân tính chẳng khác nào loài cầm thù, loài quỷ hút máu:

Bằng việc sử dụng nghệ thuật liệt kê, tả thực, đối, câu văn biền ngẫu dài ngắn linh hoạt, hình ảnh vừa cụ thể, vừa khái quát, tác giả đã viết lên một bản cáo trạng đanh thép, tố cáo tội ác dã man khủng khiếp của giặc Minh trong suốt 20 năm trên đất nước ta, đồng thời thể hiện lòng căm thù giặc sục sôi, đồng cảm với tình cảnh của nhân dân và khơi dậy ngọn lửa yêu nước trong tim mỗi người.

Nếu như ở đoạn 2 tác giả đã vạch trần tội ác dã man, tàn bạo không thể dung thứ của kẻ thù thì đến đoạn thứ ba tác giả đã tái hiện quá trình chiến đấu anh dũng của quân ta. Mở đầu bài thơ là lời tự bạch của chủ tướng Lê Lợi:

“ Ta đây:

Núi Lam Sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống”

Vị chủ tướng có xuất thân giản dị, dân dã trong nhân dân, gắn bó với nhân dân. Ông mang nặng lòng căm thù giặc sục sôi và nung nấu ý chí giết giặc cứu nước, trừ giặc cho dân “nếm mật nằm gai, quên ăn vì giận…” Lê Lợi hiện lên với bức chân dung có sự hoà quyện thống nhất giữa phẩm chất nhân dân và phẩm chất lãnh tụ. Lòng căm thù giặc, đồng cảm, thấu hiểu với nỗi thống khổ của nhân dân đã thôi thúc Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa. Trong giai đoạn đầu, kẻ thù vô cùng mạnh còn quân ta phải đối mặt với khó khăn chồng chất:quân đội thưa thớt “ Khôi Huyện quân không một đội”, thiếu thôn lương thực “ Linh Sơn lương hết mấy tuần”. Đặc biệt là quân ta đang thiếu bóng nhân tài chỉ huy cuộc khởi nghĩa:

“ Tuấn kiệt như sao buổi sớm

Nhân tài như là mùa thu”

Khó khăn là thế nhưng chính bởi khó khăn mà ta có thể thấy rõ nhưng phẩm chất tốt đẹp của nhân dân ta: tướng sĩ đồng lòng, chủ tướng đích thân đi tìm hiền tài giúp dân, giúp nước “cổ xe cầu hiền thường chăm chăm còn dành phía tả”. Quân sĩ đồng lòng sẻ chia với nhau:

“ Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào”

Hoàn cảnh khó khăn bao nhiêu càng góp phần làm nổi bạt lòng nồng nàn yêu nước và ý chí sắt đá, quyết tâm đánh tan kẻ thù xâm lược của quân ta, đồng thời đòi vị chủ tướng phải có những chiến lược, chiến thuật đúng đắn sáng tạo để dành lại độc lập cho dân tộc.

Với tinh thần tự lực, tự cường, sự đoàn kết và đường lối đúng đắn của bị tướng kiệt xuất, quân ta đã khắc phục gian nan bằng cách “đem đại nghĩa để thắng hung tàn- Lấy chí nhân để thay cường baọ” nhằm khẳng định cuộc chiến của ta là cuộc chiến vì chính nghĩa nên quân ta đã giành thắng lợi ngay từ trận mở đầu:

“ Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật

Miền Trà Lân trúc chẻ cho bay”

Tác giả Nguyễn Trãi đã nhấn mạnh yếu tố quan trọng để làm nên chiến thắng của ta là sự bất ngờ trong dung quân. Quân ta tiến công nhanh, mạnh khiến kẻ thù không kịp trở tay dẫn đến thất bại thảm hải. Không chỉ thế, quân ta còn giành thắng lợi giòn giã trong trận đánh trọng yếu:

“Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về”

Quân ta dưới sự lãnh đạo tài tình của vị chủ tướng Lê Lợi, tiến công thần tốc khiến quân địch không lường trước được, quân ta chiếm lại những vùng đất trọng yếu trong khi giặc Minh liên tiếp thất bại khiến chúng căm giận tiếp tục chi thêm viện binh nhắm chống lại quân ta:

“ Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng

Đồ nhút nhát Thanh Thăng đem dầu chữa cháy

Đinh Mùi tháng 9, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn tiến lại

Năm ấy tháng 10, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang”

Quân địch cử hai tướng lĩnh Liễu Thanh và Mộc Thạnh chỉ huy hai đạo quân thế gọng kìm với âm mưu thâm độc làm sạch cỏ nước Nam. Nhưng quân ta đã được chỉ huy chuẩn bị chu đáo cho trận chiến, chủ động chiến đấu và phá tan âm mưu của giặc giúp khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi

“ Ngày 18, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế

Ngày 20, trận Mã An, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày 25, bá tước Lương Minh bại trận tử vong

Ngày 28, thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn”

Nghệ thuật liệt kê tăng tiến cho thấy chiến thắng liên tiếp và khí thế tiến công nhanh, dồn dập, sánh ngang với song trào bão cuốn của quân đội ta: “ Gươm mài đá, đá núi cũng mòn- voi uống nước, nước sông phải cạn”, quân ta mang một khí thế tưng bừng, ngút trời khiến cho thiên nhiên cũng phải khuất phục, trái lại quân địch khinh hồn bạt vía: “ Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội, Thượng thư Hoang Phúc trói tay tự xin hàng”. Nghệ thuật đối lập còn được tác giả sử dụng nhằm khắc hoạ sự đối nghịch giữa tướng lĩnh của ta và tướng địch. Tướng ta “ sĩ tốt kém người hung hổ- bầy tôi chọn kẻ vuốt nanh”. Trong khi đó, tướng địch “ tướng giặc bị cầm tù như hổ đói vẫy đuôi xin tha mạng”

Bằng nghệ thuật tả thực kết hợp với động từ, tính từ mạnh cùng với nhịp câu văn nhanh mạnh dồn dập và âm điệu mang cảm hứng anh hùng ca, đoạn văn đã tái hiện bức tranh không khí chiến trận ác liệt, kinh thiên động địa, nhấn mạnh chiến thắng oanh liệt vẻ vang, giòn giã của quân ta. Đồng thời cũng cho thấy sự thất bại thảm hại, nhục nhã của kẻ thù, càng khẳng định rõ nét chân lí “Chính nghĩa luôn chiến thắng gian tà”. Cuộc chiến kết thúc song ngọn cờ nhân nghĩa vẫn còn vang mãi, nó thể hiện ở tinh thần yêu chuộng hoà bình, lấy nhân đức để đối đãi kẻ thù: cấp cho chúng thuyền, ngựa để cho chúng về nước,…Vì dân mà hoà hiếu với kẻ thù vừa là mưu kế kì diệu trong dung binh vừa một lần nữa khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và truyền thống nhân đạo của dân tộc ta, cho nên đâylà một tư tưởng vừa mới mẻ, vừa tiến bộ.

“Bình Ngô đại cáo” nói chung và đoạn văn nói riêng là tác phẩm chính luận nhưng vẫn mang đậm chất trữ tình. Bài cáo là bức tranh chiến thắng của quân và dân ta, đồng thời mang giá trị nhân đạo, tư tưởng nhân nghĩa tiến bộ, mới mẻ và lòng nồng nàn yêu nước của những anh hùng dân tộc và những vị minh quân thánh đế của Đại Việt.

Đô Tiến

 

Khí phách anh hùng và lòng nhân nghĩa qua tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi
5 (100%) 2 votes